Hoàn thiện khung pháp lý cho quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

[VOV2] - Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp có hiệu lực thi hành 5 năm qua vẫn cần được sửa đổi, bổ sung đề nâng cao hiệu quả nguồn vốn Nhà nước.

Trần Thu Trang

Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH 13) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2015, tạo hành lang pháp lý cho việc đầu tư vốn nhà nước vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp; cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp nhà nước đã được xây dựng đồng bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới, hội nhập.

Ông Đặng Quyết Tiến - Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho biết, trong giai đoạn vừa qua, một số chủ trương, quan điểm pháp luật có liên quan đến việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp có sự thay đổi như Nghị quyết số 12/2017 của Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành TW Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN; Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch; Luật Đầu tư công số 39/2019; Luật Doanh nghiệp số 59/2020; Luật đầu tư số 61/2020… Đồng thời quá trình triển khai Luật số 69/2014 cũng đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, bất cập nhất định.

(Phát biểu của ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính)

Tại Hội thảo "Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp: Kết quả 5 năm triển khai và định hướng sửa đổi, bổ sung" diễn ra sáng nay, 07/04 tại Hà Nội, tiến sỹ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW cho rằng, muốn tạo đột phát, tăng hiệu quả quản lý, đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp cần thay đổi trước hết từ khái niệm trong luật, cần phân định, làm rõ khái niệm vốn nhà nước theo quy trình của dòng vốn. Theo ông Cung, vốn của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng vậy (không chỉ doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ) đều gốm vốn cổ phần (hay còn gọi là vốn chủ sở hữu) và vốn vay dưới các hình thức khác nhau. Như vậy, trong doanh nghiệp, chỉ có vốn doanh nghiệp mà không có vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. 

(Phát biểu của TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW)

Luật số 69/2014/QH13 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng làm rõ vai trò của các cơ quan đại diện chủ sở hữu. Sau khi đầu tư, các cơ quan đại diện chủ sở hữu là chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần tại doanh nghiệp và có quyền, nghĩa vụ tương tự các nhà đầu tư, các cổ đông của doanh nghiệp. Các cơ quan đại diện chủ sở hữu không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Mọi hoạt động của doanh nghiệp do ban điều hành thực hiện; tách chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước với quản lý điều hành doanh nghiệp. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư vốn nhà nước phải thực hiện theo các nguyên tắc thị trường. Theo đó, phải đánh giá dựa trên giá trị gia tăng của vốn đầu tư và cổ tức, lợi nhuận được chia hàng năm - hiệu quả đầu tư vốn của cổ đông nhà nước.

Theo các chuyên gia, chỉ khi thay đổi căn bản như vậy mới có thể đẩy mạnh đổi mới, quản trị tại các doanh nghiệp nhà nước theo hướng tăng cường công khai, minh bạch và tăng trách nhiệm giải trình của người đứng đầu; áp dụng quản trị hiện đại theo thông lệ quốc tế; tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước, thúc đẩy vai trò giám sát của các tổ chức, đoàn thể tại doanh nghiệp./.

Viết bình luận

Tin cùng chuyên mục